Thứ Ba, 18 tháng 8, 2026
Trang Góc Nhỏ Văn Thơ - Mẹo, Mão , Thỏ hay Mèo?
MẸO - MÃO: THỎ HAY MÈO?
Nhân lúc có bạn gửi Admin xem các tranh luận và tranh cãi trên mạng xã hội về vị trí con mèo và con thỏ trong hệ thống 12 con giáp, chúng ta cùng phân tích chuyên sâu dựa trên những bằng chứng ngôn ngữ còn sót lại. Trước tiên, ta cần làm rõ 12 con giáp là một hệ thống thập nhị phân, 12 "địa chi" 地支 lại là một hệ thống thập nhị phân khác, việc kết nối tương ứng một-một các phần tử của hai hệ thập nhị phân này là một thao tác. Một cộng đồng nào đó ở châu Á có thể tiếp thu hệ 12 con giáp mà không tiếp thu hệ "thập nhị chi" 十二支.
Người Hán cổ đại xác định một đường cong khép kín tưởng tượng khi quan sát từ Trái đất gọi là "hoàng đạo" 黃道 (đường vàng), con người quan sát điều này trước khi biết "mặt đất" quay quanh Mặt trời. Ở hệ quy chiếu nhật tâm, quỹ đạo Trái đất quanh Mặt trời nằm trên một mặt phẳng tưởng tượng được gọi là mặt phẳng hoàng đạo. Dựa vào sự lặp lại vị trí của nền sao trên bầu trời đêm theo chu kì năm, người cổ đại có thể đếm được mất xấp xỉ 360 ngày mới lặp lại.
360 là bội số của 12, người xưa có thể chia vòng hoàng đạo thành 12 cung, một năm cũng có thể chia thành 12 tháng phù hợp với hệ thập nhị phân "Tí - Sửu - Dần - Mẹo - Thìn - Tị - Ngọ - Mùi - Thân - Dậu - Tuất - Hợi" 子丑寅卯辰巳午未申酉戌亥, cứ mỗi tháng thì Mặt trời đi qua vị trí của một cung trên hoàng đạo. Mỗi tháng trung bình 30 ngày chưa tính nhuận do sai số từ quan sát thiên văn, con số 30 ngày xấp xỉ chu kì Mặt trăng trung bình 29,5 ngày, hay nói cách khác là khoảng cách giữa hai ngày "sóc" 朔 kế tiếp hoặc giữa hai ngày "vọng" 望 (rằm) kế tiếp. 30 ngày chia thành 3 "tuần" 旬 gọi là "thượng tuần" 上旬, "trung tuần" 中旬 và "hạ tuần" 下旬 phù hợp với hệ thập phân "thiên can" 天干 gồm "Giáp - Ất - Bính - Đinh - Mậu - Kỉ - Canh - Tân - Nhâm - Quý" 甲乙丙丁戊己庚辛壬癸.
Người Hán cổ đại gọi Mộc tinh là "Tuế Tinh" 歲星. "Tuế" 歲 nghĩa là năm, tuổi, chu kì quỹ đạo Mộc tinh quanh Mặt trời xấp xỉ 12 năm trên Trái đất, do đó người xưa có thể chia thành 12 phần trên nền trời, xem Mộc tinh ở vị trí nào để xác định chu kì 12 năm Trái đất ứng với 12 chi. Mặt phẳng quỹ đạo Mộc tinh chỉ lệch một góc khoảng 1,303° so với mặt phẳng hoàng đạo, khiến người quan sát từ Bắc bán cầu thấy quỹ đạo Mộc tinh trong khoảng 11,86 năm ≈ 12 năm luôn bám sát hoàng đạo.
Từ rất xa xưa, hệ thống tính lịch bằng 12 con giáp đã phổ biến khắp khu vực rộng lớn ở châu Á. Tổ tiên của người Khmer đã vay mượn tên đặc thù cho các con giáp từ tổ tiên của người Việt, sau đó tổ tiên của người Thái Lan lại vay mượn người Khmer. Xét cách 2 ngôn ngữ láng giềng gọi vị trí con giáp thứ 4, ta suy ra người Việt từng dùng con thỏ (gốc Hán 兔, nay đổi cách đọc âm Hán-Việt tiêu chuẩn là "thố" theo phiên thiết) trước khi đổi thành con mèo do ảnh hưởng của hệ thống Can Chi đọc theo âm Hán-Việt xưa ("Mẹo - Ngọ - Dậu - Hợi" sau khi phiên thiết theo âm hiện đại sẽ thành "Mão - Ngỗ - Dữu - Hãi").
Dưới đây là tương quan (tiền Việt-Mường, nếu cần thiết) Việt - Khmer - Thái Lan trong tên 12 con giáp:
1. chuột - "chuut" ជូត - "chuat" ชวด
2. (*chlu*) tlâu/tlu > trâu/tru - "chhlow" ឆ្លូវ - "cha-luu" ฉลู. Tiếng Mường gọi con trâu là "tlu / klu".
3. (*khál*) khái (con hổ) - "khaal" ខាល - "khaal" ขาล (phát âm đuôi /l/ thành /n/). Tiếng Mường gọi con hùm là "khảl".
4. thỏ - "thoh" ថោះ - "tho" เถาะ
5. rồng - "roong" រោង - "ma-roong" มะโรง (“ma” là âm họ tự chèn vào thêm như các ví dụ dưới đây)
6. (*p'xắn*) rắn - "msanh" ម្សាញ់ - "ma-seng" มะเส็ง. Chữ Nôm sơ khai khoảng thế kỉ 12 trong tác phẩm chữ Nôm "Kinh này Bụt thốt cả trả ơn áng nạ cực nặng" 經尼孛說垰把恩盎那極曩 dịch từ bản gốc chữ Hán "Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh" 佛說大報父母恩重經 kí âm *p'xắn* (p'θắn) là *p'-xán* 破散 (p'θán) nay ta biến âm Hán-Việt thành “phá tán” nên không hiểu được nữa). Tiếng Mường gọi rắn là "thảnh" với "th" [tʰ] là một biến thể âm vị của âm [θ] (phát âm như "th" /θ/ trong "think, thank, thin, thick" tiếng Anh).
7. từ tượng thanh tiếng hí con ngựa??? - "mo-mii" មមី - "ma-mia" มะเมีย
8. từ tượng thanh tiếng kêu con dê, con cừu - "mo-mae" មមែ - "ma-mae" มะแม (con dê tiếng Khmer gọi là "popae" ពពែ là từ tượng thanh)
9. (*woọc*) voọc - "wok" វក - "wok" วอก
10. (*r-ka*) kha (phương ngữ Bắc Trung bộ) / gà - "rokaa" រកា - "ra-kaa" ระกา
11. chó - "cho" ច - "jo" จอ
12. (*cúl*) cúi - "kul" កុរ - "kun" กุน. Tiếng Mường gọi con heo/lợn là "con cúi". Chữ Nôm sơ khai trong "Kinh này Bụt thốt cả trả ơn áng nạ cực nặng" 經尼孛說垰把恩盎那極曩 viết "giết cúi dê, máu chảy suốt (k'ruốt) hết đất" 折檜羝泖沚律歇怛. Tác phẩm "Trùng san chỉ nam bị loại các bộ dã đàm đại toàn" 重刊指南備類各部野譚大全 viết "Hà đồn: cúi nước gặp người lội theo" 河豚會渃及㝵洡燒 với "hà đồn" 河豚 nghĩa đen là heo sông, lợn sông, chỉ con cá heo (ở sông)
Người Việt không phải là cộng đồng duy nhất chuyển con thỏ thành mèo. Người Gurung ở Nepal cũng nằm trong vùng ảnh hưởng 12 con giáp của người Hán, sở hữu hệ thống con giáp: chuột, bò cái (cow), hổ, mèo, garuda, rắn, ngựa, cừu, khỉ, chim, chó, nai. Người Việt cũng không phải là cộng đồng duy nhất có sự cải biên về 12 con giáp:
- Nhật Bản: chuột, bò đực, hổ, thỏ, rồng, rắn, ngựa, cừu, khỉ, gà, chó, heo/lợn rừng
- Hàn Quốc: chuột, bò đực, hổ, thỏ, rồng, rắn, ngựa, cừu, khỉ, gà, chó, heo/lợn nuôi
- Khmer: chuột, bò đực, hổ, thỏ, rồng/neak (tiếng Phạn: “nāga” नाग), rắn, ngựa, dê/cừu, khỉ, gà, chó, heo/lợn nuôi
- Thái Lan: chuột, bò đực, hổ, thỏ, naak (tiếng Phạn: “nāga” नाग), rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, heo/lợn nuôi
- Chăm: chuột, bò đực, hổ, thỏ, rồng, rắn, ngựa, dê, rùa, gà, chó, heo/lợn
- Malay: chuột, bò đực, hổ, cheo cheo, naga, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, rùa cạn
- Tây Tạng: chuột, bò đực, hổ, thỏ, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, chim, chó, heo/lợn rừng.
Các cộng đồng ngày xưa chịu ảnh hưởng của Mông Cổ cũng có những khác biệt về 12 con giáp so với người Hán/Hoa.
Mỗi sự cải biên của những cộng đồng này đều có lí do của họ. Chẳng hạn “dương” 羊 trong Hán ngữ dùng để gọi một số loài vật trong đó có dê và cừu, người Nhật Bản và người Hàn Quốc thay con giáp dê của người Hán thành con cừu. “Ngưu” 牛 trong Hán ngữ dùng để gọi một số loài vật trong đó có bò và trâu, người Việt xưa nay luôn hiểu nó là trâu. Người Nhật và người Hàn không có động lực đổi thỏ thành mèo như người Việt vì người Việt có thể liên kết “Mẹo” với tên của con mèo và tiếng kêu của mèo, trong khi người Nhật gọi mèo là “neko” 猫 (ねこ) và nghe tiếng mèo kêu là “nyan” ニャン, người Hàn gọi mèo là “go-yang-i” 고양이 và nghe tiếng mèo kêu là “ya-ong” 야옹 không liên quan cách họ đọc “Mão/Mẹo” 卯.
Những cộng đồng thay đổi con rồng thành dạng sinh vật thần thoại của họ (garuda, neak/naak/naga) là do khác biệt về văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng. Điều tương tự áp dụng cho những cộng đồng thay đổi con khỉ và con heo/lợn. Những cộng đồng thay đổi con gà thành con chim gồm người Gurung và người Tây Tạng, địa bàn sinh sống của họ là vùng cao. Một số thay đổi nhỏ giữa thỏ và thỏ rừng, heo/lợn nuôi và heo/lợn rừng, bò đực và bò cái, gà trống và gà mái là không đáng kể.
Tổ tiên của người Việt từ xa xưa đã lựa chọn cách đặt tên cho một số động vật dựa trên tiếng kêu đặc trưng của chúng: bò - bê, tắc kè, ếch, tu hú, bìm bịp (kêu “bịp bịp”), cuốc, cu, ve… Mèo cũng nằm trong số đó, với tiếng kêu đặc trưng không lẫn vào đâu được. Không chỉ tiếng Việt mới gọi tên mèo bằng từ tượng thanh, ta còn thấy điều tương tự ở tiếng Mường, các ngôn ngữ thuộc nhóm Tai (tại Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Việt Nam), hoặc “miêu” 貓 của Hán ngữ.
Hiện nay, ta đang đọc tên 12 chi trong hệ thống can chi bằng những âm Hán-Việt đã lưu truyền từ xa xưa, phản ánh cách mà chúng được gọi trong quá khứ. “Tí” 子 đọc theo phiên thiết Hán-Việt (phiên thiết là các công thức đánh vần chữ Hán do người Hán thiết kế), trong khi nay ta dùng âm “tử” cho những ý nghĩa khác. “Thìn” 辰 nếu đọc theo phiên thiết ngày nay sẽ là “thần”, còn như kí âm Latin của Alexandre de Rhodes vào thế kỉ 17, người Việt xưa đọc “nhân” 人 (người) là “nhin”, “nhật” 日 (mặt trời, ngày) là “nhịt” và “cấp” 急 (gấp) là “kíp”... Tương tự, nếu phiên thiết lại lần nữa cho ra âm Hán-Việt “hiện đại”, thì “Ngọ” 午 sẽ là “ngỗ”, “Mùi” 未 sẽ là “vị” cũng giống “vị” 味 (mùi vị) ngày xưa cho người Việt âm “mùi”, “Dậu” 酉 sẽ là “dữu” và “Hợi” 亥 sẽ là “hãi”.
Sở dĩ chúng ta không dùng những âm “tử”, thần”, “ngỗ”, “vị”, “dữu”, “hãi”, là vì các cách đọc Hán-Việt cổ xưa đã được nhân gian thuộc nằm lòng mà không cần trải qua trường lớp chữ Nho, không cần phải phiên thiết lại lần nữa. Chúng là các “kí ức tập thể” về ngôn ngữ, đã trở thành quy định, chẳng hạn, chúng ta không gọi địa danh Phú Yên là “Phú An” hay Quy Nhơn là “Quy Nhân”, dù cùng Hán tự.
Tương tự, “Mẹo” chính là cách đọc Hán-Việt cổ xưa của “Mão” 卯 và ngày nay chúng cùng nhau tồn tại, trong đó “Mẹo” giàu tính dân gian hơn. Các cứ liệu văn bản xa xưa cho thấy hầu như chỉ mới có “Mẹo” chứ chưa có “Mão”. Ngữ âm tiếng Việt thời xa xưa khiến “Mẹo”, “Ngọ”, “Dậu”, “Hợi” ngày nay mang thanh nặng khi lưu truyền qua lịch sử, so với phiên thiết Hán-Việt hiện đại cho ra thanh ngã “mão”, “ngỗ”, “dữu”, “hãi”. Sự lệch 1-1 về thanh điệu giữa các thời kì khác nhau là một “ánh xạ” bị gây ra bởi sự thay đổi của ngữ âm tiếng Việt qua thời gian, sự phân hoá các phương ngữ. Thậm chí, tiếng Việt cũng có ánh xạ với tiếng Mường về quy ước kí âm thanh điệu.
Ta nhắc lại 2 khuôn khổ thanh điệu tiếng Việt hiện đại ứng với 8 thanh của tiếng Hán trung cổ. Các thanh bậc phù/âm (phù 浮: nổi) gồm “ngang - hỏi - sắc” và các thanh bậc trầm/dương (trầm 沈/沉: chìm) gồm “huyền - ngã - nặng”. Để có hình dung rõ hơn về mối quan hệ ngữ âm giữa 2 khuôn khổ này, chúng ta có thể lắng nghe cách các phương ngữ ở Bắc Trung bộ phát âm, mang âm hưởng của tiếng Việt trung đại.
Các phương ngữ Bắc Trung bộ này, với vai trò là tấm gương phản chiếu tiếng Việt trung đại và cổ đại, cũng là chiếc chìa khoá cho ta thấy xu hướng “dịch chuyển” thanh điệu (hoặc nói như trên là ánh xạ) giữa âm Việt hoá (đôi khi là âm Hán-Việt cũ) so với âm Hán-Việt hiện đại: “hỏi <> sắc <> ngang”, “ngã <> nặng <> huyền”. Ví dụ:
- Âm Hán-Việt thanh hỏi: “khả” 可 - “khẩn” 懇 - “khiển” 遣 - “cảm” 感 - “thảo” 草 - “phẩm” 品 - “thẩm” - 嬸 - “trảm” 斬 - “trản” 盞 - “để” 底 - “quyển” 卷... tương ứng âm Việt hoá thanh sắc là “khá” - “khấn” - “khiến” - “cám” - “tháu” - “phím” - “thím” - “chém” - “chén” - “đáy” - “cuốn”... Đối với các âm Việt hoá “tiền Hán-Việt”, ta sẽ thấy chiều hướng ngược lại: “giá” 嫁 - “giá” 價 - “kế” 計 - “giới” 芥 - “tuế” 歲 - “thố” 兔 - “quái/khoái” 膾 - “chá” 炙... ứng với âm Việt hoá thanh hỏi “gả” - “cả” - “kể” - “cải” - “tuổi” - “thỏ” - “gỏi” - “chả”...
- Âm Hán-Việt thanh sắc: “đối” 對 - “tứ” 四 - “thấu” 透 - “tấu” 奏 - “thuế” 稅 - “tín” 信 - “quán” 貫 - “quán” 慣 - “ấn” 印 - “thế” 替 - “kiếm” 劍 - “kính” 鏡... tương ứng âm Việt hoá thanh ngang là “đôi” - “tư” - “thâu” - “tâu” - “thuê” - “tin” - “quan” - “quen” - “in” - “thay” - “gươm” - “gương”...
- Âm Hán-Việt thanh ngã: “lãnh” 冷 - “mãnh” 猛 - “lễ” 禮 - “dũng” 蛹 - “đãi” 待 - “mỗi” 每 - “võng” 望 - “vãn” 晚 - “nhẫn” 忍... tương ứng âm Việt hoá thanh nặng là “lạnh” - “mạnh” - “lạy” - “dộng/nhộng” - “đợi” - “mọi” - “mạng” - “muộn” - “nhịn”...
- Âm Hán-Việt thanh nặng: “nhị” 二 - “quỵ” 跪 - “nệ” 泥 - “diệu” 鷂 - “đại” 代 - “dụng” 用 - “liệu” 料 - “vận” 韻 - “vận” 運 - “ngạnh” 梗 - “nghệ” 藝... tương ứng âm Việt hoá thanh huyền là “nhì” - “quỳ” - “nề” - “diều” - “đời” - “dùng” - “liều” - “vần” - “vần” - “ngành” - “nghề”...
Cách đọc Hán-Việt “Mẹo” 卯 của tiếng Việt biến âm tự nhiên từ một âm trung gian theo phiên thiết bằng miệng và tai ở thời điểm người Việt cổ chưa có kí âm Latin, mà ta tạm kí âm là *myạo*. Nó tương đương âm “myō” 卯 của tiếng Nhật (cách đọc Go-on) và “myo” 묘 của tiếng Triều Tiên/Hàn Quốc khi đọc chữ Hán “Mão” 卯, có chèn một âm lướt “-y-” /j/ mà ngôn ngữ học gọi là âm “vòm hoá” (palatalization). Âm vòm hoá này được người Hán ngày xưa thể hiện rõ trong phiên thiết bằng vần 肴 (hình dung âm *hyào* mà nay ta đọc là “hào”), hài thanh với 交 (hình dung âm *kyao* mà nay ta đọc là “giao”). Nó tương đồng với việc người Việt từng mượn chữ “báo” 豹 (con báo) cũng mang vần 肴 cho ra từ “beo” nghĩa là con báo.
Chúng ta đã trải qua các bài viết về những trường hợp Việt hoá sau:
- "the" - "sa" 紗
- "xe" - "xa" 車
- "mè" - "ma" 麻
- "hè" - "hạ" 夏
- "khéo" - "xảo" 巧 (theo phiên thiết đáng ra âm "khảo")
- "keo" - "giao" 膠
- "keo" - "giáo / giảo" 珓 / 筊 (kí âm bằng chữ "giao" 交)
- "kéo" - "giảo" 鉸
- "beo" - "báo" 豹
- "Mẹo" - "Mão" 卯
- "chém" - "trảm" 斬
- "chén" - "trản" 盞
- "chè" - "trà" 茶
- "quen" - "quán" 慣
- "hẹn" - "hạn" 限
- "xét" - "sát" 察
- "kén" - "giản" 揀
- "kẻ" - "giá" 架
- "kém" - "giảm" 減 / 减.
- "ép" - "áp" 壓.
Ở các bài này, Admin đã giải thích chi tiết lí do đằng sau cho phép có sự khác biệt giữa âm Hán-Việt thời xưa chứa nguyên âm "e" /ɛ/ trong khi âm Hán-Việt thời sau chứa nguyên âm "a" /a/. Điều đó đồng nghĩa với việc, chỉ có 1 số chữ Hán nhất định mới có mối tương quan "e" - "a" như thế, chứ không thể đem ra áp dụng phổ quát cho các trường hợp khác.
Về nguyên do có sự biến chuyển giữa vần "-ao" của âm Hán-Việt và vần "-eo" của âm Việt hoá, ta cần kết nối với bài "gi đã là gì?" của chuyên mục "Giải mã chữ quốc ngữ". Ở bài đó, ta đã làm rõ việc người phương Tây dùng tổ hợp "gi" để ghi lại một phụ âm vòm hoá, chẳng hạn "giao" của tiếng Việt trung đại sẽ phát âm như /kʲa:w/, hình dung âm *kyao*. Thời điểm này, khi phiên thiết Hán-Việt, không đơn thuần chỉ là âm “ao” /a:w/ được cắt ra làm vần như ngày nay, mà thay vào đó cả tổ hợp *-yao* /-ja:w/ sẽ được trích xuất ra, và âm đó nghe rất giống vần "-eo" /ɛw/.
Lấy cách gọi con "beo" cổ xưa làm ví dụ, mà nay ta còn gọi theo âm Hán-Việt là con "báo" 豹. Phiên thiết của “báo” 豹 là "bắc giáo thiết" 北敎切:
- ngày xưa: 北敎切 = [b]ắc + k[yáo] = *byáo* (sắc + sắc = sắc), chỉnh âm thành *béo*, Việt hoá thành “beo” như xu hướng thanh điệu kể trên
- ngày sau: 北敎切 = [b]ắc + z[áo] = báo.
Rất may mắn, người Việt không phải là cộng đồng phi Hán duy nhất học chữ Hán, chúng ta cùng ngó qua một vài ngôn ngữ trong vùng văn hoá Hán tự đã phiên thiết chữ “báo” 豹 thành âm gì nhé:
- Tiếng Triều Tiên/Hàn Quốc: “pyo” 표
- Tiếng Nhật Bản: “hyō” ひょう. Ghi chú cho các bạn chưa biết tiếng Nhật, “h” trong tiếng Nhật (không đồng nhất với “h” của tiếng Việt) có liên quan với “b” và “p”, không như logic của tiếng Việt. Chẳng hạn “hito” ひと là người, tiếng Nhật nói mọi người là “hito-bito” ひとびと chứ không phải “hito-hito”. “Hi” ひ thêm ゛ ra “bi” び còn thêm ゜ ra “pi” ぴ.
- Tiếng Nhật Bản cổ: “heu” へう
- Tiếng Choang (Quảng Tây, Trung Quốc): “beuq” (phát âm: pê-ú), họ phiên thiết ra âm gần giống *béo* phục dựng tiếng Việt mà khi nãy ta phân tích. Ngày xưa, người Choang từ Quảng Tây di cư vào Bắc bộ nước ta, về sau được ta gọi là người Nùng và người Tày, họ cũng dùng chữ Hán để kí âm ngôn ngữ của mình như cách người Việt tạo ra chữ Nôm.
Các ngôn ngữ kể trên cho thấy trong phiên thiết tiếng Hán có chứa âm vòm hoá, phản ánh qua âm lướt “-y-” /j/ trong tiếng Triều Tiên/Hàn Quốc và tiếng Nhật hoặc biến âm dịch chuyển về phía /i/ trong chuỗi các nguyên âm “dòng trước” /a - æ - ɛ - e - i/ như tiếng Nhật cổ, tiếng Việt và tiếng Choang. Hiện tượng vòm hoá này đã bị đa số phương ngôn của người Hán loại bỏ như tiếng Quan thoại, tiếng Quảng Đông, tiếng Triều Châu, tiếng Phúc Kiến…
Cũng cùng cơ chế, âm vòm hoá của 卯 ánh xạ vào các ngôn ngữ:
- Tiếng Việt: Mẹo
- Tiếng Triều Tiên/Hàn Quốc: “myo” 묘
- Tiếng Nhật Bản: “myō” みょう (cách đọc Go-on), nay người Nhật thường dùng cách đọc Kan-on “bō” ぼう.
Nhờ có những cộng đồng phi Hán trong vùng văn hoá Hán tự mà ta đã hình dung được chuyện gì đã xảy ra trong quá khứ. Không phải người Việt cao hứng lên mà nói lệch “Mão” thành “Mẹo”, mà thật ra “Mẹo” là âm cổ xưa, có trước và xâm nhập vào “kí ức tập thể” của người Việt truyền qua biết bao nhiêu thế hệ, như một công thức nằm lòng “Tí Sửu Dần Mẹo Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi”. “Mão” là sản phẩm khi phiên thiết lần nữa vào thời sau. Sự nảy sinh cách đọc “Mẹo” được củng cố bởi tiếng Triều Tiên/Hàn Quốc và tiếng Nhật Bản.
Chính vì ngày xưa người Việt vốn đọc “Mẹo” 卯 mà con thỏ trong hệ thống 12 con giáp đã được người Việt thay bằng con mèo vì sự gần gũi về âm thanh với tên của mèo và tiếng kêu của nó, cũng như sự gần gũi của người Việt với loài mèo, mối tương quan với chuột và chó... Đầu thế kỉ 17, theo ghi chép của Alexandre de Rhodes, ta biết được người Việt đã chuyển “Mẹo” thành con mèo từ trước đó.
--
Phần "Thiên văn chí" 天文志 trong "Hán thư" 漢書 viết:
日有中道 月有九行
Nhật hữu trung đạo, nguyệt hữu cửu hành
Nghĩa là: Mặt trời có con đường ở giữa, Mặt trăng có 9 con đường.
Theo đó, "trung đạo" 中道 gọi là "hoàng đạo" 黃道 (đường vàng), màu vàng gắn với trung tâm, hành "Thổ" 土, thời điểm "Hạ chí" 夏至 ở Bắc bán cầu và linh vật "Hoàng Long" 黃龍 (rồng vàng). Trung tâm này được người cổ đại quy chiếu để xác định 4 phương 8 hướng trên bầu trời và đặt tên cho 8 đường còn lại.
Mặt trăng có 9 đường, ngoài hoàng đạo thì có 2 "hắc đạo" 黑道 (đường đen) ở phía bắc của hoàng đạo, 2 "xích đạo" 赤道 (đường đỏ) ở phía nam của hoàng đạo, 2 "bạch đạo" 白道 (đường trắng) ở phía tây của hoàng đạo, 2 "thanh đạo" 青道 (đường xanh) ở phía đông của hoàng đạo. Màu đen gắn với phương bắc, hành "Thuỷ" 水, mùa đông ở Bắc bán cầu và linh vật "Huyền Vũ" 玄武 ("huyền" 玄 là màu đen, "vũ" 武 được đại diện bởi 2 loài vật gồm rùa và rắn là các loài có tập tính trú đông). Màu đỏ gắn với phương nam, hành "Hoả" 火, mùa hè ở Bắc bán cầu và linh vật "Chu Tước" 朱雀 (chim sẻ đỏ).
Màu trắng gắn với phương tây, hành "Kim" 金, mùa thu ở Bắc bán cầu và linh vật "Bạch Hổ" 白虎 (hùm trắng). Màu xanh gắn với phương đông, hành "Mộc" 木, mùa xuân ở Bắc bán cầu và linh vật "Thanh Long" 青龍 hay "Thương Long" 蒼龍 (rồng xanh). Một năm chia thành 4 mùa "xuân" 春 - "hạ" 夏 (hè) - "thu" 秋 - "đông" 冬 và gọi chung là "tứ thời" 四時 (tứ thì).
Mỗi mùa tiếp tục được xác định 2 thời điểm quan trọng gọi là các ngày "tiết" 節, ta có "bát tiết" 八節 (8 tiết) gồm các ngày bắt đầu mùa và giữa mùa: "Lập xuân" 立春 - "Xuân phân" 春分 - "Lập hạ" 立夏 - "Hạ chí" 夏至 - "Lập thu" 立秋 - "Thu phân" 秋分 - "Lập đông" 立冬 - "Đông chí" 冬至. Từ đây ta có thành ngữ "tứ thời bát tiết" 四時八節. 8 đường của Mặt trăng kể trên có mối tương quan với bát tiết, tuỳ thuộc vị trí hai giao điểm của quỹ đạo Mặt trăng với mặt phẳng hoàng đạo, hai điểm này chuyển dịch hằng năm và mất 18,6 năm để hoàn thành một chu kì.
Sau mỗi chu kì 18,6 năm, ta quan sát thấy Mặt trăng đã di chuyển trên 9 đường chủ đạo kể trên, mỗi năm Mặt trăng chuyển động tương đối quanh 1-2 đường trong 9 đường. Sau khi tiếp xúc với thiên văn học Hindu, người Hán du nhập thêm 2 khái niệm mới góp phần tạo thành hệ thống "cửu diệu" 九曜 (9 thiên thể) ứng với "navagraha" नवग्रह của người Ấn Độ thay cho "thất diệu" 七曜 cổ xưa. Đó là Kế Đô và La Hầu, hai "vì tinh tú" này chính là hai giao điểm kể trên.
Sao Kế Đô và sao La Hầu trong phong thuỷ và tử vi về bản chất thiên văn học là 2 vì tinh tú không có thật. Quỹ đạo elip của Mặt trăng quanh Trái đất (bạch đạo) lệch với mặt phẳng hoàng đạo, Kế Đô và La Hầu là 2 giao điểm tạo bởi quỹ đạo Mặt trăng với mặt phẳng hoàng đạo. Xét theo chiều quay quanh Trái đất của Mặt trăng, thường Kế Đô là giao điểm mà Mặt trăng sau đó giáng xuống dưới mặt phẳng hoàng đạo, còn La Hầu là giao điểm mà Mặt trăng sau đó thăng lên trên mặt phẳng hoàng đạo.
Các hiện tượng nhật thực và nguyệt thực đòi hỏi Mặt trăng di chuyển vào vị trí thẳng hàng với Mặt trời và Trái đất, do đó vị trí này thuộc mặt phẳng hoàng đạo. Điều đó tức là hiện tượng nhật thực và nguyệt thực có liên quan việc Mặt trăng di chuyển tới vị trí Kế Đô và La Hầu. Vì vậy người Ấn Độ cổ đại nhân hoá chúng thành huyền thoại về 2 nửa của loài a-tu-la ("ásura" असुर) tên "Svarbhānu" स्वर्भानु hay còn gọi là "Saiṃhikeya" सैंहिकेय (nghĩa là con trai của Siṃhikā) là con trai của quỷ la-sát ("rākṣasa" राक्षस) tên "Siṃhikā" सिंहिका.
Svarbhānu trở nên bất tử nhờ uống được nước cam lồ / cam lộ ("amṛta" अमृत - "a-mật-rị-đa" 阿密哩多, nghĩa là sự bất tử), vì vậy khi bị thần "Viṣṇu" विष्णु (Vishnu) chém lìa đầu, Svarbhānu tồn tại thành 2 phần, phần đầu trở thành "Rāhu" राहु và phần thân trở thành "Ketú" केतु. Theo thần thoại Hindu, Rahu nuốt Mặt trời gây ra hiện tượng nhật thực và Ketu nuốt Mặt trăng gây ra hiện tượng nguyệt thực.
"Ketú" केतु được người Hán phiên âm là "Kế Đô" 計都 và "Rāhu" राहु được phiên âm là "La Hầu" 羅睺. Ứng dụng vào kiến thức chiêm tinh và thiên văn của mình, người Ấn Độ cổ đại và người Hán đưa Kế Đô và La Hầu trở thành 2 vì tinh tú tưởng tượng trong số "cửu diệu" 九曜 ("navagraha" नवग्रह) cùng với 7 vì tinh tú có thật là Mặt trời, Mặt trăng, Thuỷ tinh, Kim tinh, Hoả tinh, Mộc tinh, Thổ tinh.
Quan sát từ Trái đất, nhật thực chỉ có thể xảy ra vào ngày không trăng, ta còn gọi là ngày "sóc" 朔. Khi này, Mặt trăng nằm vào khoảng giữa Trái đất và Mặt trời, nếu lúc đó Mặt trăng tiến vào mặt phẳng hoàng đạo thì ba thiên thể này (gần như) thẳng hàng trong không gian, Mặt trăng có thể che khuất một phần hoặc toàn phần Mặt trời. Nhật thực hình khuyên xảy ra khi Mặt trăng tiến vào vị trí xa Trái đất hơn trên quỹ đạo elip của nó quanh Trái đất, khiến độ lớn biểu kiến của Mặt trăng không đủ to để che khuất Mặt trời so với khi xảy ra nhật thực toàn phần.
Các nền văn minh khác ở Bắc bán cầu cũng chia "hoàng đạo" thành 12 cung. Từ điển "Nam Việt-Dương Hiệp Tự vị" 南越洋合字彙 (Dictionarium Anamitico-Latinum) bản mang in của Jean-Louis Taberd (1838) ghi nhận một cách gọi lạ của cung Bảo Bình 寶瓶 (Aquarius):
- vòng huình đạo 黃道, zodiaci circulus.
- vòng huình đạo có mười hai cung; duodecim sunt zodiaci signa, scilicet:
+ Bạch dương cung 白羊宮, Aries. ♈︎
+ Tuất cung 戌宮, id. ("id." là viết tắt tiếng Latin "idem" nghĩa là tương tự, ý nói nghĩa giống như trên)
+ Kim ngưu cung 金牛宮, Taurus. ♉︎
+ Dậu cung 酉宮, id.
+ Song nhi cung 雙兒宮, Gemini. ♊︎
+ Thân cung 申宮, id.
+ Cự giải cung 拒蟹宮, Cancer. ♋︎ (ta viết chuẩn là 巨蟹宮)
+ Mùi cung 未宮, id.
+ Sư tử cung 獅𤜭宮, Leo. ♌︎ (ta viết chuẩn là 獅子宮)
+ Ngọ cung 午宮, id.
+ Thất nữ cung 室女宮, Virgo. ♍︎
+ Tị cung 巳宮, id.
+ Thiên bình cung 天秤宮, Libra. ♎︎ (nay ta đọc phân biệt "Thiên Xứng" 天秤 và "Thiên Bình" 天平)
+ Thìn cung 辰宮, id.
+ Thiên yết cung 天蝎宮, Scorpius. ♏︎ (dị thể 天蠍)
+ Mẹo cung 卯宮, id.
+ Nhơn mã cung 人馬宮, Sagittarius. ♐︎
+ Dần cung 寅宮, id.
+ Ma kiết cung 摩羯宮, Capricornus. ♑︎ (nay ta thường đọc "Ma Kết")
+ Sửu cung 丑宮, id.
+ Thiết bình cung 竊瓶宮, Amphora. ♒︎
+ Tí cung 子宮, id.
+ Song ngư cung 雙魚宮, Pisces. ♓︎
+ Hợi cung 亥宮, id.
Giải thích:
- "song nhi" 雙兒 nghĩa là 2 đứa trẻ
- “thất” 室 là cái phòng, cái nhà, nên “thất nữ” 室女 dùng để nói về người con gái còn ở nhà chưa lấy chồng
- "thiết" 竊 là trộm cắp, "thiết bình" 竊瓶 nghĩa là cái bình bị đánh cắp, "amphora" tiếng Latin là cái vò có 2 quai (của Hi Lạp, La Mã).
Các cung hoàng đạo còn lại tương tự cách gọi trong tiếng Việt ngày nay. Ở thời điểm biên soạn từ điển, ta thấy ở miền Nam đã có tục nói tránh "hoàng" 黃 thành "huỳnh" (cũng như họ "Hoàng" 黃 thành họ "Huỳnh"). Ta cũng thấy hệ thống cung hoàng đạo phương Tây còn được "ánh xạ" vào hệ thống "thập nhị chi" 十二支 của vùng văn hoá Hán tự, nhưng theo chiều ngược lại.
Ung Chu
(Góc Nhỏ Văn Thơ)
-----------------------------------------------------------------------------------------
Ghi chú: ảnh Photo by Đinh Văn Linh minh họa sưu tầm từ internet.
Nhãn:
Ban tron van nghe
Đăng ký:
Đăng Nhận xét
(
Atom
)




Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét