BA BÀI THƠ THU CỦA NGUYỄN KHUYẾN (1)
Trước nay, ba bài Thu ẩm, Thu điếu, Thu vịnh của Nguyễn Khuyến đã được bình phẩm rất nhiều. Những bài thơ này được coi là tiêu biểu cho hồn thơ Nôm Nguyễn Khuyến, xác lập vị thế Nguyễn Khuyến là “nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam”
Phần lớn các tác giả có xu hướng khẳng định ba bài thơ là những bức tranh nên thơ, vẽ đúng được điệu hồn của mùa thu làng quê đồng bằng Bắc Bộ; ẩn trong cảnh thu thanh bình là nỗi u hoài thầm kín về nỗi đau thời thế nước mất nhà tan mà bản thân bất lực, bế tắc(3). Phải nói rằng, những nhận định này không sai. Mỗi bài thơ thu của Nguyễn Khuyến thực là một bức tranh thuỷ mặc bằng ngôn từ, diễn tả được đúng thần thái cảnh thu đồng bằng Bắc Bộ với những hình ảnh đặc trưng: trời xanh, nước trong, lá vàng, khói trắng, ao, nhà, ngõ… Đọc ba bài thơ dễ nhận thấy không khí yên ả, dịu êm của làng quê tự bao đời. Tuy nhiên, tiếp cận từ góc độ khác là có thể thấy một sắc thái đối lập với sự nên thơ, thanh bình từ ba bài thơ thu. Một số tác giả đã bàn về phương diện này, song vẫn hướng đến khẳng định cái hay của bài thơ là cảnh đẹp của làng cảnh đồng bằng Bắc Bộ mùa thu và nỗi đau thời thế kín đáo của tác giả. Bài viết này xin bổ sung, nhấn mạnh theo lối cảm nhận mới: ba bài thơ thu của là kết tụ của những ngột ngạt, tàn tạ, thụ động, bế tắc cả cảnh lẫn tình. Với ba bài thơ thu, Nguyễn Khuyến là nhà thơ của những tang thương, tái tê đến giày vò, khắc khoải nỗi đau đời, đau thời.
1. Cảnh ngột ngạt, vắng lặng, hư ảo, tàn tạ, thụ động
Ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến cùng khắc hoạ cảnh vật ngột ngạt, vắng lặng, hư ảo, tàn tạ, thụ động.
Trạng thái ngột ngạt được diễn tả qua nhiều hình ảnh eo hẹp, tăm tối và cô lẻ. Đó là ao, nhà, ngõ… Đây là những không gian có điểm dị biệt với đặc điểm của văn chương trung đại truyền thống. Văn học trung đại thường coi trọng những không gian trời biển, núi sông rộng lớn, đặt con người trong tầm kích vũ trụ để thể hiện chí khí anh hùng “dọc ngang trời rộng, vẫy vùng bể khơi” (Truyện Kiều – Nguyễn Du). Nguyễn Khuyến đi theo một hướng khác. Ông mở đầu bài Thu điếu bằng hình ảnh cái ao bé nhỏ:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Cái ao làng, ao vườn thường là ao tù nước đọng, nhỏ hẹp rất nhiều so với hồ, đầm, phá… Cái ao có bờ quây vòng quanh, con con trong tầm mắt còn bị vo lại bởi cái lạnh của mùa thu và độ trong veo của nước. Theo tính chất vật lí, sự vật có sự giãn nở khi gặp độ nóng và co lại khi gặp độ lạnh. Khí lạnh lẽo của mùa thu làm người đọc có cảm giác chiếc ao bị thu hẹp hơn. Thêm nữa, tính từ “trong veo” vừa tuyệt đối hoá độ trong của nước vừa gợi ra cảm giác có thể nhìn rõ cả giới hạn chiều sâu của cái ao nhỏ. Thế là với từ “trong veo”, cái ao đã tỏ rõ giới hạn nhỏ nhoi của mình cả về chiều rộng lẫn chiều sâu! Chưa hết, độ nhỏ của cái ao còn bị thu thêm vào một lần nữa bởi vần “eo”- tiếng nào có vần này khi phát âm, miệng đều co tròn lại! Ngay trong câu thơ mở đầu, vần eo đã xuất hiện ở hai từ: lạnh lẽo, trong veo. “Eo” còn là bộ vần của bài thơ: veo, teo, vèo, teo, bèo tạo nên một cảm giác ngột ngạt, vây hãm! Như vậy, trạng thái nhỏ hẹp đã được thể hiện tới ba lần ở câu thơ đầu, sau mỗi từ ngữ, độ hẹp càng về sau càng thu thêm lại. Cái ao đã nhỏ còn như cố gắng co đến mức không thể nhỏ hơn được nữa. Tính chất nhỏ bé còn choán lấy toàn bài do tác giả lựa chọn vần “eo” cho cả bài thơ!
Trước nay, ba bài Thu ẩm, Thu điếu, Thu vịnh của Nguyễn Khuyến đã được bình phẩm rất nhiều. Những bài thơ này được coi là tiêu biểu cho hồn thơ Nôm Nguyễn Khuyến, xác lập vị thế Nguyễn Khuyến là “nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam”
Phần lớn các tác giả có xu hướng khẳng định ba bài thơ là những bức tranh nên thơ, vẽ đúng được điệu hồn của mùa thu làng quê đồng bằng Bắc Bộ; ẩn trong cảnh thu thanh bình là nỗi u hoài thầm kín về nỗi đau thời thế nước mất nhà tan mà bản thân bất lực, bế tắc(3). Phải nói rằng, những nhận định này không sai. Mỗi bài thơ thu của Nguyễn Khuyến thực là một bức tranh thuỷ mặc bằng ngôn từ, diễn tả được đúng thần thái cảnh thu đồng bằng Bắc Bộ với những hình ảnh đặc trưng: trời xanh, nước trong, lá vàng, khói trắng, ao, nhà, ngõ… Đọc ba bài thơ dễ nhận thấy không khí yên ả, dịu êm của làng quê tự bao đời. Tuy nhiên, tiếp cận từ góc độ khác là có thể thấy một sắc thái đối lập với sự nên thơ, thanh bình từ ba bài thơ thu. Một số tác giả đã bàn về phương diện này, song vẫn hướng đến khẳng định cái hay của bài thơ là cảnh đẹp của làng cảnh đồng bằng Bắc Bộ mùa thu và nỗi đau thời thế kín đáo của tác giả. Bài viết này xin bổ sung, nhấn mạnh theo lối cảm nhận mới: ba bài thơ thu của là kết tụ của những ngột ngạt, tàn tạ, thụ động, bế tắc cả cảnh lẫn tình. Với ba bài thơ thu, Nguyễn Khuyến là nhà thơ của những tang thương, tái tê đến giày vò, khắc khoải nỗi đau đời, đau thời.
1. Cảnh ngột ngạt, vắng lặng, hư ảo, tàn tạ, thụ động
Ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến cùng khắc hoạ cảnh vật ngột ngạt, vắng lặng, hư ảo, tàn tạ, thụ động.
Trạng thái ngột ngạt được diễn tả qua nhiều hình ảnh eo hẹp, tăm tối và cô lẻ. Đó là ao, nhà, ngõ… Đây là những không gian có điểm dị biệt với đặc điểm của văn chương trung đại truyền thống. Văn học trung đại thường coi trọng những không gian trời biển, núi sông rộng lớn, đặt con người trong tầm kích vũ trụ để thể hiện chí khí anh hùng “dọc ngang trời rộng, vẫy vùng bể khơi” (Truyện Kiều – Nguyễn Du). Nguyễn Khuyến đi theo một hướng khác. Ông mở đầu bài Thu điếu bằng hình ảnh cái ao bé nhỏ:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Cái ao làng, ao vườn thường là ao tù nước đọng, nhỏ hẹp rất nhiều so với hồ, đầm, phá… Cái ao có bờ quây vòng quanh, con con trong tầm mắt còn bị vo lại bởi cái lạnh của mùa thu và độ trong veo của nước. Theo tính chất vật lí, sự vật có sự giãn nở khi gặp độ nóng và co lại khi gặp độ lạnh. Khí lạnh lẽo của mùa thu làm người đọc có cảm giác chiếc ao bị thu hẹp hơn. Thêm nữa, tính từ “trong veo” vừa tuyệt đối hoá độ trong của nước vừa gợi ra cảm giác có thể nhìn rõ cả giới hạn chiều sâu của cái ao nhỏ. Thế là với từ “trong veo”, cái ao đã tỏ rõ giới hạn nhỏ nhoi của mình cả về chiều rộng lẫn chiều sâu! Chưa hết, độ nhỏ của cái ao còn bị thu thêm vào một lần nữa bởi vần “eo”- tiếng nào có vần này khi phát âm, miệng đều co tròn lại! Ngay trong câu thơ mở đầu, vần eo đã xuất hiện ở hai từ: lạnh lẽo, trong veo. “Eo” còn là bộ vần của bài thơ: veo, teo, vèo, teo, bèo tạo nên một cảm giác ngột ngạt, vây hãm! Như vậy, trạng thái nhỏ hẹp đã được thể hiện tới ba lần ở câu thơ đầu, sau mỗi từ ngữ, độ hẹp càng về sau càng thu thêm lại. Cái ao đã nhỏ còn như cố gắng co đến mức không thể nhỏ hơn được nữa. Tính chất nhỏ bé còn choán lấy toàn bài do tác giả lựa chọn vần “eo” cho cả bài thơ!
Đến câu thứ hai của bài Thu điếu, tính chất bé nhỏ tiếp tục được gia tăng hơn:
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Trên ao nhỏ xuất hiện một con thuyền bé. Từ chỉ số ít “một” kết hợp với từ láy “tẻo teo” khiến con thuyền càng nhỏ bé hơn – tưởng chỉ như một chấm nhỏ chút xíu, cỏn con và cũng không thể nhỏ hơn nữa! Trạng thái nhỏ hẹp này cũng xuất hiện ngay từ đầu bài Thu ẩm:
Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.
Cái nhà năm gian truyền thống của đồng bằng Bắc Bộ cuối thế kỉ XIX vốn bé nhỏ được cụ thể thêm về sự nhỏ bé bằng từ thấp. Thấp đến mức le te – nghĩa là thấp đến mức cực độ, chừng như không thể thấp hơn được nữa, chỉ đủ cho người cúi đầu ra vào. Trạng thái nhỏ hẹp này tiếp tục được thể hiện qua không gian ngõ. Ngõ mở rộng không gian về chiều dài hơn một cái ao, một cái nhà, song nó chật hẹp. Trong bài Thu điếu, ngõ quanh co – không thẳng – đặc điểm này càng làm tăng lên độ nhỏ hẹp của kiểu đường làng ngõ xóm. Trong Thu ẩm, ngõ bị chìm trong đêm tối – ngõ tối. Độ tối một lần nữa thu thêm độ hẹp của con ngõ! Không gian nào cũng tù túng, nhỏ bé! Xét từng hình ảnh cũng thấy hình ảnh nào cũng nhỏ nhoi: cái ao, cái ngõ, cái lá, chút sóng, bèo, con thuyền… Có thể nói, trạng thái eo hẹp, tăm tối khiến cho cảnh thơ thu Nguyễn Khuyến có sắc thái ảm đạm, tù túng của cảnh nông thôn nghèo Bắc Bộ!
Cùng với sự ngột ngạt, tối tăm là trạng thái hư ảo, tàn tạ, thụ động. Ấn tượng này được biểu hiện trong rất nhiều hình ảnh dưới trời xanh. Ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, bài nào cũng có bầu trời xanh ngắt:
– Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
(Thu điếu)
– Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
(Thu ẩm)
– Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ, gió hắt hiu
(Thu vịnh)
Trời xanh là hình ảnh đặc trưng của mùa thu Bắc Bộ. Đó vốn là hình ảnh nên thơ, hiền dịu, trong sáng ở tâm cảm của nhiều người. Với người hiện đại, màu xanh là biểu tượng của hoà bình. Nhưng với văn chương trung đại, hình ảnh trời xanh còn gắn với ý niệm về một lực lượng siêu nhiên có sức mạnh ghê gớm, chi phối mọi biến cố của trần gian. Thế lực trời xanh khiến người ta khắc khoải, đau đớn trước những nỗi đau buồn không thể lí giải. Con người cất lên những tiếng hỏi không lời đáp, bế tắc, cay đắng với trời:
Xanh kia thăm thẳm từng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
(Chinh phụ ngâm khúc – Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm)
Màu xanh trong văn chương cũng vậy, nó cũng nhiều khi có ý nghĩa chỉ cái vô cùng, vô tận khắc nghiệt của thiên nhiên. Khi xuất hiện màu xanh, nhiều nỗi tang thương đau buồn trải ra:
Trăm năm còn có gì đâu,
Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì.
(Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều)
Sau này, thơ Vũ Hoàng Chương (1916-1976) cũng có hai câu thơ mang màu xanh đậm chất suy tư, triết luận như thế:
Từ phen Trái Đất ra đi,
Lệ chia phôi đã xanh rì trùng dương.
(Nhịp trúc mùa thơ)
Những xanh trời, xanh biển, xanh cây, xanh mồ… khiến người ta rờn rợn! Nó chứng tỏ trời đất vẫn cứ mãi cao rộng, thời gian cứ trôi, cỏ cây cứ sống… Nó sống với bản thân nó, đối lập với cái hữu hạn, tàn lụi của con người. Trước cái màu xanh nghiệt ngã ấy, con người trở nên đau thương vời vợi bởi như bị tự nhiên vô cảm với những nỗi đau quặn xót của bản thân mình!
Trở lại với ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. Trời xanh đã trở thành nền và làm nổi bật cái hữu hạn, nhỏ bé của mọi vật nói chung, con người nói riêng. Thêm nữa, dưới khoảng trời xanh ngắt, các sự vật, hiện tượng nối tiếp nhau biểu hiện sự thụ động, tàn tạ, hư ảo.
(còn nữa)
(Ngõ nhỏ Văn Chương)
-----------------------------------------------------------------------------------------
Ghi chú: ảnh Photo by Phúc Lê Quang minh họa sưu tầm từ internet.
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Trên ao nhỏ xuất hiện một con thuyền bé. Từ chỉ số ít “một” kết hợp với từ láy “tẻo teo” khiến con thuyền càng nhỏ bé hơn – tưởng chỉ như một chấm nhỏ chút xíu, cỏn con và cũng không thể nhỏ hơn nữa! Trạng thái nhỏ hẹp này cũng xuất hiện ngay từ đầu bài Thu ẩm:
Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.
Cái nhà năm gian truyền thống của đồng bằng Bắc Bộ cuối thế kỉ XIX vốn bé nhỏ được cụ thể thêm về sự nhỏ bé bằng từ thấp. Thấp đến mức le te – nghĩa là thấp đến mức cực độ, chừng như không thể thấp hơn được nữa, chỉ đủ cho người cúi đầu ra vào. Trạng thái nhỏ hẹp này tiếp tục được thể hiện qua không gian ngõ. Ngõ mở rộng không gian về chiều dài hơn một cái ao, một cái nhà, song nó chật hẹp. Trong bài Thu điếu, ngõ quanh co – không thẳng – đặc điểm này càng làm tăng lên độ nhỏ hẹp của kiểu đường làng ngõ xóm. Trong Thu ẩm, ngõ bị chìm trong đêm tối – ngõ tối. Độ tối một lần nữa thu thêm độ hẹp của con ngõ! Không gian nào cũng tù túng, nhỏ bé! Xét từng hình ảnh cũng thấy hình ảnh nào cũng nhỏ nhoi: cái ao, cái ngõ, cái lá, chút sóng, bèo, con thuyền… Có thể nói, trạng thái eo hẹp, tăm tối khiến cho cảnh thơ thu Nguyễn Khuyến có sắc thái ảm đạm, tù túng của cảnh nông thôn nghèo Bắc Bộ!
Cùng với sự ngột ngạt, tối tăm là trạng thái hư ảo, tàn tạ, thụ động. Ấn tượng này được biểu hiện trong rất nhiều hình ảnh dưới trời xanh. Ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, bài nào cũng có bầu trời xanh ngắt:
– Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
(Thu điếu)
– Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
(Thu ẩm)
– Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ, gió hắt hiu
(Thu vịnh)
Trời xanh là hình ảnh đặc trưng của mùa thu Bắc Bộ. Đó vốn là hình ảnh nên thơ, hiền dịu, trong sáng ở tâm cảm của nhiều người. Với người hiện đại, màu xanh là biểu tượng của hoà bình. Nhưng với văn chương trung đại, hình ảnh trời xanh còn gắn với ý niệm về một lực lượng siêu nhiên có sức mạnh ghê gớm, chi phối mọi biến cố của trần gian. Thế lực trời xanh khiến người ta khắc khoải, đau đớn trước những nỗi đau buồn không thể lí giải. Con người cất lên những tiếng hỏi không lời đáp, bế tắc, cay đắng với trời:
Xanh kia thăm thẳm từng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
(Chinh phụ ngâm khúc – Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm)
Màu xanh trong văn chương cũng vậy, nó cũng nhiều khi có ý nghĩa chỉ cái vô cùng, vô tận khắc nghiệt của thiên nhiên. Khi xuất hiện màu xanh, nhiều nỗi tang thương đau buồn trải ra:
Trăm năm còn có gì đâu,
Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì.
(Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều)
Sau này, thơ Vũ Hoàng Chương (1916-1976) cũng có hai câu thơ mang màu xanh đậm chất suy tư, triết luận như thế:
Từ phen Trái Đất ra đi,
Lệ chia phôi đã xanh rì trùng dương.
(Nhịp trúc mùa thơ)
Những xanh trời, xanh biển, xanh cây, xanh mồ… khiến người ta rờn rợn! Nó chứng tỏ trời đất vẫn cứ mãi cao rộng, thời gian cứ trôi, cỏ cây cứ sống… Nó sống với bản thân nó, đối lập với cái hữu hạn, tàn lụi của con người. Trước cái màu xanh nghiệt ngã ấy, con người trở nên đau thương vời vợi bởi như bị tự nhiên vô cảm với những nỗi đau quặn xót của bản thân mình!
Trở lại với ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. Trời xanh đã trở thành nền và làm nổi bật cái hữu hạn, nhỏ bé của mọi vật nói chung, con người nói riêng. Thêm nữa, dưới khoảng trời xanh ngắt, các sự vật, hiện tượng nối tiếp nhau biểu hiện sự thụ động, tàn tạ, hư ảo.
(còn nữa)
(Ngõ nhỏ Văn Chương)
-----------------------------------------------------------------------------------------
Ghi chú: ảnh Photo by Phúc Lê Quang minh họa sưu tầm từ internet.
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét